Chủ đề: Giúp em vấn đề này!
-
05-16-2009, 01:16 AM #1
Junior Member
- Ngày tham gia
- Nov 2015
- Bài viết
- 0
Giúp em vấn đề này!
Em tạo chủ đề này để xin những lời chỉ dẫn tích cực của mọi người về bài viết này:
Dựa vào tý kiến thức ít ỏi em tin rằng bài viết không có những chứng cứ đáng tin cậy, nhưng em không thể tranh luận với chủ topic ở web này: http://minhkhaist.net/forum/viewtopi...p=16904#p16904
Hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản là người Trung Quốc?
Hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản là người Trung Quốc? (Phần I)
Năm 1987, tôi được biết Ueno, một học giả Nhật Bản hiện đang làm việc tại trường đại học Waseda, nghiên cứu rất sâu về Từ Phúc. Vị học giả này nói rằng, chính Từ Phúc và những người đi theo ông ta đã sinh sôi thành ngàn vạn đời con cháu trên đất nước Nhật Bản. Chỉ cần nhìn nhãn cầu có màu vàng nâu của người Nhật Bản có thể khẳng định họ là hậu duệ của bộ lạc Tề (nước Tề, quê hương Từ Phúc). Ở Nhật Bản có rất nhiều người mang họ Saito, trong Hán ngữ có nghĩa là Tề. Có thể nói, chí ít cũng có 30% người Nhật có huyết thống Trung Hoa và họ đều là hậu duệ của những tùy tòng của Từ Phúc.
Tượng Từ Phúc ở Nhật Bản
1. Lai lịch Từ Phúc
Từ Phúc là đồ đệ của nhân vật nổi tiếng thuộc phái Binh gia Quỷ Cốc Tử. Quỷ Cốc Tử từng làm tể tướng nước Sở, sau đó về ở ẩn ở nước Vệ, thu nhận đồ đệ tại tỉnh Hà Nam, huyện Kỳ, núi Vân Mộng. Bởi vì Quỷ Cốc Tử thu nhận đồ đệ tại đây mà địa danh này trở nên nổi tiếng. Quỷ Cốc Tử tên là Vương Thần, còn gọi là Vương Hử, người nước Vệ, thời Chiến Quốc. Lớn lên theo thuật Tung Hoành, tinh thông binh pháp, võ thuật, kỳ môn độn giáp. Ông nổi tiếng có cuốn sách Quỷ Cốc Tử binh pháp còn lưu truyền đến nay. Quỷ Cốc Tử thường ngày ẩn cư trong núi Vân Mộng dạy đệ tử. Trong những đồ đệ của Quỷ Cốc Tử thì Từ Phúc là đồ đệ thuộc hàng sau Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi, Mao Toại, những nhân vật nổi tiếng thời Chiến Quốc.
Trong số những đồ đệ của Quỷ Cốc Tử, Tôn Tẫn, Bàng Quyên chú trọng ở binh pháp, thông hiểu cả kỳ môn bát quái. Thời đại của họ ước chừng vào khoảng thời đại của Tần Hiếu Công. Trương Nghi, Tô Tần chủ ở thuật Tung Hoành (du thuyết, ngoại giao). Khi họ xuất núi là thời kỳ của Tần Huệ Vương và Tần Chiêu Vương còn Hiếu Văn Vương, ông của Tần Thủy Hoàng chỉ lên ngôi được 1 năm thì chết.
Còn Mao Toại, Từ Phúc là những đồ đệ cuối đời của Quỷ Cốc Tử. Thời đại của Mao Toại ước vào thời cha của Tần Thủy Hoàng, Khánh Tương Vương (thời kỳ Lã Bất Vi nắm quyền). Từ Phúc là đệ tử nổi danh cuối cùng của Quỷ Cốc Tử, học khí công, tu tiên và võ thuật. Thời điểm ông ta xuất núi chính vào khoảng thời gian Tần Thủy Hoàng đăng cơ, cùng thời với tể tướng Lý Tư. Thời gian vị đệ tử cuối cùng này của Quỷ Cốc Tử xuống núi ước vào khoảng từ năm 280 đến năm 230 trước CN, trước sau khoảng bốn đến năm mươi năm.
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, Từ Phúc hiến kế cho Tần Thủy Hoàng rằng dùng 500 đồng nam, 500 đồng nữ, đi thuyền lớn tới đảo Bồng Lai để hỏi thần tiên xin thuốc trường sinh bất lão. Kết quả là vào năm 219 trước CN đi lần thứ nhất không có kết quả gì. Lần thứ hai vào năm 209 thì một đi không trở lại. Tần Thủy Hoàng đợi một năm không thấy Từ Phúc trở lại, thân mình đã chết trước, không biết rằng, Từ Phúc đã đến Doanh Châu ở biển Đông (tức Nhật Bản).
Sách sử còn ghi chép lại rằng, Từ Phúc tức Từ Thị, tên chữ là Quân Phòng, người Lang Nha, đất Tề (nay là Cán Du, Giang Tô, Trung Quốc), phương sĩ nổi tiếng thời Tần. Ông học rộng, tài cao, thông hiểu y học, thiên văn, hàng hải,… đồng tình với trăm họ, vui thú với việc giúp đỡ người khác cho nên có danh vọng rất cao trong lòng người dân ven biển.
Năm 28 Thủy Hoàng (tức năm 219 trước CN), lần thứ nhất Tần Thủy Hoàng đi tuần phía Đông, lên núi Thái Sơn khắc vào đá ca ngợi công đức. Sau đó qua huyện Hoàng, núi Phàn Thành, lên núi Chi Phù (nay là Yên Đài), xuống Lang Nha ở phía Nam, lưu tại đó ba tháng. Trong thời gian đó, Tần Thủy Hoàng nhìn thấy ở ven bờ biển xuất hiện một người con trai, cho rằng đó là tiên nhân xuất hiện bèn phái Từ Phúc dẫn đồng nam, đồng nữ đáp một số thuyền tiến ra biển đi tìm thuốc trường sinh bất lão. Từ Phúc ra biển tìm thuốc nhiều năm mà không có kết quả gì.
9 năm sau (tức năm 210 trước CN), Tần Thủy Hoàng tuần thú phía Đông lần thứ hai, Từ Phúc sợ Tần Thủy Hoàng trách móc mình, bèn dối trá rằng, ở ngoài biển có một con cá mập rất đáng sợ, do đó thuyền rất khó đến gần được núi tiên để cầu thuốc, nên phái những thiện xạ cùng đi để họ giết con cá nguy hiểm này mới có khả năng lên bờ cầu xin thuốc tiên được. Tần Thủy Hoàng lại một lần nữa phái Từ Phúc mang đồng nam, đồng nữ và thợ khéo tay, võ sĩ, xạ thủ tổng cộng hơn 500 người, mang theo ngũ cốc, lương thực, đồ dùng, nước ngọt ra biển cầu xin thuốc tiên.
Từ Phúc ra biển Đông không cầu được “thuốc bất lão”, sau khi lên bờ tại Kumanoura, Nhật Bản, phát hiện ra một “bình nguyên rất rộng” (tức là đảo Kyushu, Nhật Bản). Thuốc trường sinh bất lão không tìm được nếu trở về sẽ gặp họa sát thân, Từ Phúc bèn tính kế lâu dài, định cư nơi đây, không quay trở về nữa. Từ Phúc và những người đi cùng đã dạy cho những người ở đảo Kyushu những văn minh tiên tiến của triều Tần như kỹ thuật canh tác nông nghiệp và đánh bắt cá, luyện kim, làm muối,… và cả kỹ thuật điều trị bệnh trong y học, thúc đẩy xã hội nơi đây phát triển, nhờ vậy rất được nhân dân nơi đây kính trọng.
Người Nhật Bản tôn Từ Phúc làm “thần cai quản việc nông canh” và “thần y dược”. Ở Wakayama, Saga, Hiroshima, Aichi, Akita,… đều có dấu tích của những hoạt động của Từ Phúc. Ở Saga, Shinmiya trong các đền thờ đều lấy Từ Phúc làm thần để thờ phụng, mỗi năm đều tổ chức hoạt động tế lễ rất rầm rộ. Để phát huy mạnh mẽ tinh thần của Từ Phúc, Trung Quốc và Nhật Bản đã phối hợp lập nên Hội Từ Phúc, mấy năm gần đây những tác phẩm học thuật và văn nghệ liên quan đến Từ Phúc không ngừng xuất bản, những vở kịch liên quan đến Từ Phúc cũng không ngừng được lên sân khấu.
2. Từ Phúc là Thủy Hoàng Đế của người Nhật Bản?
Người Nhật Bản thường chỉ nói thần tộc Thiên Hoàng vượt biển mà tới đất này nhưng lại không đề cập đến chuyện từ đâu mà tới.
Vào năm 1987, tôi từng qua thăm Shinmiya bởi vì tôi rất muốn nhìn tận mắt nơi Từ Phúc lên bờ ở Nhật. Thành Shinmiya nằm ở huyện Wakayama. Tôi cũng từng gặp qua thị trưởng của thành phố Shinmiya. Điều lý thú là ông ta vốn cũng là người rất có hứng thú với nhân vật Từ Phúc. Ông ta mang tôi đến địa điểm Từ Phúc lên bờ. Đây là một bờ biển rất đẹp, có một ngôi đền thờ thần màu hồng, xung quanh rất yên tĩnh. Chúng tôi cũng tìm đến địa điểm mà theo truyền thuyết là nơi Từ Phúc đã phát hiện ra loại thuốc trường sinh bất lão. Vị thị trưởng này giải thích rằng, loại thuốc này có tác dụng bổ thận trị bệnh, người có một quả thận khỏe, tuổi thọ đương nhiên sẽ được kéo dài!
Lang Nha đài, nơi Từ Phúc xuống thuyền ra biển Đông
Thị trưởng còn dẫn tôi tham quan bia mộ của Từ Phúc được lập tại vùng ngoại ô của thành phố. Tấm bia này dùng Hán ngữ để ghi chép từ việc Từ Phúc làm sao tìm ra thuốc trường sinh bất lão cho đến việc vì sao ông quyết định định cư lâu dài ở Nhật. Bia mộ được lập vào năm 1834, trên bia có ghi 5 chữ “Từ Phúc chi mộ bi” do một vị thư pháp gia có tiếng thủ bút còn lời thơ trên mặt bia là do một vị Hán học người Nhật viết ra.
Thị trưởng nơi đây còn cho biết, vào ngày 28 tháng 11 hàng năm, người Wakayama đều tập trung trước mộ Từ Phúc để tổ chức hoạt động kỷ niệm rất trọng thể. Vào năm 1980, lễ kỷ niệm Từ Phúc của người Wakayama đã tròn 2200 năm. Từ năm 19915 trở đi, nhân dân Wakayama thành lập Hội bảo vệ di tích Từ Phúc. Năm 1931, họ còn thành lập Hội bảo vệ di sản văn hóa Từ Phúc, tới năm 1955 cuối cùng họ đã thành lập nên Hiệp hội Từ Phúc.
Quần thể tượng miêu tả việc Từ Phúc vượt biển
Bên cạnh mộ của Từ Phúc còn có bảy ngôi mộ khác, tương truyền là bảy người thân tín bên cạnh Từ Phúc. Không có ai nói được rõ ràng về số phận của 3000 đồng nam, đồng nữ mà Từ Phúc mang theo đến Nhật Bản.
Có rất nhiều địa phương ở Nhật Bản, đặc biệt là Kyushu cũng có những di tích về Từ Phúc. Lần đầu qua Fukutomi, tôi đã hỏi một vị quan chức cao cấp nơi đây rằng có biết về Từ Phúc hay không. Vị này cũng có một chút lúng túng, bởi vì ông ta từ trước đến nay chưa từng nghe qua cái tên này. Vì thế tôi kể cho ông ta nghe một số chuyện về Từ Phúc. Ngày thứ hai, ông ta đưa cho tôi một cuốn Trung tâm Kyushu tại Trung Quốc. Trong sách có nhiều bài nói về mối quan hệ giữa Trung Quốc, Kyushu và Từ Phúc.
Tất cả người Nhật Bản đều kính trọng Từ Phúc. Trong thôn Kinryu ở Saga, Từ Phúc trở thành một vị thần về tri thức và y dược được mọi người sùng bái. Ngoài ra ông còn được mọi người xưng tụng như là thần nước và thần nông nghiệp. Những người dân trong thôn gọi Từ Phúc là “Kinryu tiên sinh”. Ở đó còn có một bức tranh tường cổ miêu tả mối quan hệ giữa Từ Phúc và Kinryu. Đây là tác phẩm của một họa sĩ sống vào thế kỷ XVII, hiện tại đã trở thành bảo vật của chùa Kinryu.
Ở Kinryu, mỗi khi gặp hạn hán, người dân lại tới chùa Kinryu mang bức họa Từ Phúc trên kiệu, đi khắp chợ để cầu mưa. Khi đi phía sau của kiệu người ta dùng cỏ và lá trúc kết thành một con rồng lớn nặng 2 tấn, dài 36 mét. Toàn bộ nghi thức này được gọi là “Vũ khất hành sự” (nghi thức cầu mưa) được cử hành vào 8 tháng 8, bốn năm năm một lần. Trong nghi thức trọng thể này, những người tham gia nỗ lực đánh trống để cầu trời cho mưa xuống.
Vào năm 1724, tại Chifu, gần Kinryu cũng bị hạn hán nghiêm trọng nhưng sau khi tiến hành nghi thức cầu mưa này thì mưa xuống. Vì vậy, người Nhật Bản tin rằng, khi Từ Phúc tới Chifu tìm thuốc trường sinh bất lão, ông đã giúp đỡ rất nhiều nông dân nơi đây. Thậm chí còn có thuyết nói ông đã yêu một cô gái của vùng đất Chifu này.
Tôi cũng đã tham quan vùng ven biển của Shinmiya, tới nơi có bức tường thành đổ nát cao khoảng một mét rưỡi, dài khoảng chừng 32 km. Người Nhật Bản tin rằng Từ Phúc cũng tu sửa một đoạn trường thành. Nó là hình ảnh thu nhỏ của Vạn Lý Trường Thành của nước Tần Trung Quốc. Vào thời kỳ Mạc Phủ Edo (1600 - 1876), còn được tu sửa vượt qua kỷ lục của toàn thành này. Một số học giả cho rằng, Từ Phúc tu sửa đoạn thành này thực tế là để phòng chống quân của Tần Thủy Hoàng vì truy bắt ông ta mà tấn công Nhật Bản. Vào thời kỳ Edo, không có một lực lượng lao động lớn, để xây dựng một tòa thành như vậy là điều không thể tưởng tượng nổi, đây thực là một khoản chi phí lớn.
Địa điểm Từ Phúc lên bờ cũng rất phù hợp với địa điểm mà nhân vật Thần Vũ Thiên Hoàng lên bờ. Một học giả Đài Loan tên là Vệ Đỉnh Sinh vào năm 1970 đã viết một cuốn sách tên gọi là Từ Phúc và Nhật Bản, nói rằng vị hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản không phải ai khác chính là Từ Phúc. Ông dựa vào sự trùng hợp rất kỳ lạ về thời gian mà Thiên hoàng và Từ Phúc lên bờ mà đưa ra kết luận khá mới mẻ này. Trong sách còn đề cập đến việc từ sinh hoạt trong những mộ huyệt quan trọng của hoàng tộc Nhật Bản vào thời đại Thiên Chiếu Đại Thần, người ta phát hiện ra một chiếc gương đồng thời Tần và một chiến đao mà người nước Tần thường dùng. Nếu như không phải là Từ Phúc tới đây, thì Nhật Bản làm sao có được những di vật thời cổ đại này? 2000 năm trước khi Từ Phúc tới Nhật Bản, Nhật Bản còn đang trong thời kỳ đồ đá, làm sao có thể chế tạo những thứ như vậy? Cuốn sách này còn nói tiếp, sự thực đã chứng minh Từ Phúc chính là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản.
Tác giả còn lo lắng rằng nếu như người Nhật Bản cứ tiếp tục tin chắc vào thần thoại rằng họ là hậu duệ của thần mà không tiếp nhận các luận điểm khoa học thì lịch sử rất có thể sẽ bị lặp lại, bởi nguyên nhân gây ra chiến tranh là vì người Nhật Bản tin rằng mình là chủng tộc ưu tú nhất.
Lịch sử của Nhật Bản chìm ngập trong những thần thoại. Đại đa số người Nhật đến nay vẫn tin họ là hậu duệ của những vị thần, như trong hai bộ biên niên sử sớm nhất của Nhật Bản là Cổ sự ký (Truyền thuyết cổ đại) và Nhật Bản thư ký (Nhật Bản biên niên sử) có ghi chép. Căn cứ vào những cuốn sử này, Thần Vũ Thiên Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản lên ngôi vào năm 660 trước CN. Nhưng cho tới đầu thế kỷ thứ VIII, Nhật Bản vẫn chưa có một bộ sử biên niên ghi chép lịch sử nào hoàn toàn đáng tin cậy. Và điều không thể tranh cãi nữa là cả hai bộ sử này đều dùng Hán ngữ cổ đại để viết thành.
Hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản là người Trung Quốc? (Phần II)
Nghiên cứu của Ueno còn đề xuất rất nhiều những kết luận khác. Ông cho rằng, Từ Phúc và những người tùy tòng của ông đã sinh sôi thành ngàn vạn đời con cháu trên đất nước Nhật Bản. Chỉ cần xem màu mắt vàng của người Nhật Bản thì có thể khẳng định họ là hậu duệ bộ lạc Tề (tức bộ lạc quê hương của Từ Phúc). Những người Nhật bản này có rất nhiều người mang họ Trai Đằng, trong Hán Ngữ có nghĩa là Tề.
3. Từ Phúc là người sáng lập Thần Đạo giáo Nhật Bản?
[CENTER]
Từ Phúc
Người Nhật Bản không thích khảo cổ, bởi vì đã khảo thì nguyên hình tất lộ. Thần Đạo giáo của Nhật Bản vốn đến từ Trung Quốc.
Vào năm 1987, tôi có quen Ueno, một học giả Nhật nghiên cứu rất sâu về Từ Phúc, hiện đang công tác tại đại học Waseda. Sau thế chiến thứ hai, Nhật Bản bị liên minh đánh bại, ông di dân sang sống ở Mỹ và một số nước Mỹ Latin. Ông nói với tôi rằng, sau khi ông rời Nhật Bản mới phát hiện tại sao ở Châu Á, phát xít Nhật Bản lại phạm phải nhiều tội ác như vậy, tại sao Nhật Bản lại muốn chinh phục thế giới. Vị học giả này rời Nhật Bản đã 25 năm, và 10 năm trước đây mới quay trở lại Nhật Bản.
Ueno cho rằng, vào triều Tần, Tần Phúc nhất định là một thủ lĩnh người nước Tề nhờ nghiên cứu cách chế tạo thuốc trường sinh mà nổi danh. Tần Thủy Hoàng muốn trừ khử Từ Phúc vì Từ Phúc chắc chắn sẽ là mối đe dọa với ông ta. Ông ta phái Từ Phúc đi tìm thuốc trường sinh mà ông ta biết là nhiệm vụ không thể hoàn thành. Từ Phúc biết rằng, nếu mình tay không trở về Trung Quốc nhất định sẽ bị Tần Thủy Hoàng xử tử. Đó là nguyên nhân Từ Phúc không trở về Trung Quốc.
Ueno nói, Từ Phúc mang theo những đại thành của nền trí tuệ và tri thức của người Trung Quốc, trong đó bao gồm Đạo giáo. Ông cho rằng, Từ Phúc mới chính là người sáng lập chân chính của Thần Đạo giáo ở Nhật Bản. Thời Chiến Quốc, nước Tề là nước tuân thủ tôn giáo một cách nghiêm ngặt, mỗi người đến đạo quán đều phải trai giới, ở đó có phòng dành riêng cho mọi người thực hiện việc trai giới, làm sạch tâm hồn. Cho đến nay trong mỗi đền thờ thần xã đều còn giữ lại kiểu phòng như vậy dành cho những người tham bái thực hiện việc trai giới, loại phòng này được gọi là “Tề thất”, hoặc “Tề”, tức là quê hương nước Tề của Từ Phúc.
Tôi cũng có đôi điểm nghi ngờ trong cách lý giải của Ueno, vì thế khi tôi tới mỗi huyện tham quan đều tìm hiểu qua các đền thờ thần xã, xem có giống như lời của Ueno nói hay không. Khi tôi đến tham quan các thần xã, đều đặt một câu hỏi: “Ở đây có Tề thất, dành cho người đến cúng bái hay không?”. Người hầu trong thần xã rất kinh ngạc nhìn tôi, đại khái nói rằng chưa từng có ai hỏi đến vấn đề này. Họ đều trả lời rằng: “Đương nhiên là có loại tề thất như vậy, mỗi người đến cúng bái ở đền thần xã trước hết đều phải trai giới ở phòng này”. Tôi cũng hỏi họ là có biết nguồn gốc của loại “Tề thất” này không thì họ không biết. Nhưng rõ ràng những lý giải của Ueno không phải là không có lý.
Nghiên cứu của Ueno còn đề xuất rất nhiều những kết luận khác. Ông cho rằng, Từ Phúc và những người tùy tòng của ông đã sinh sôi thành ngàn vạn đời con cháu trên đất nước Nhật Bản. Chỉ cần xem màu mắt vàng của người Nhật Bản thì có thể khẳng định họ là hậu duệ bộ lạc Tề (tức bộ lạc quê hương của Từ Phúc). Những người Nhật bản này có rất nhiều người mang họ Trai Đằng, trong Hán Ngữ có nghĩa là Tề.
Ông còn nói Khổng Tử và Lão Tử đều có nguồn gốc sâu xa từ nước Tề. Những người tùy tòng của Từ Phúc cũng có nhiều họ khác nhau, trong số đó cũng có rất nhiều người họ Tần, là quốc danh dưới vương triều Tần. Tại quận Sơn Khẩu, 1300 năm trước đã từng xây dựng nên một vương quốc Tần. Từ phong tục tập quán đều như là xuất phát từ Trung Quốc, họ đều là hậu duệ của “đặc phái viên” của triều đại nhà Tần, Từ Phúc.
Căn cứ theo thống kê của Ueno, chí ít cũng có 30% người Nhật có huyết thống Trung Hoa và họ đều là hậu duệ của những tùy tòng của Từ Phúc.
Ueno nói: “Nếu như người Nhật Bản biết rằng mình với người Trung Quốc là như đồng bào, có cùng huyết thống thì trong chiến tranh thế giới thứ hai họ đã không phạm phải những hành động tàn ác như vậy đối với người Trung Quốc. Chúng ta rất có thể cũng sẽ không tiến hành xâm lược người Trung Quốc”. Ông còn nói: “Trước khi tôi sang Trung Quốc, bởi vì những tội ác chúng ta gây ra với Trung Quốc trong chiến tranh thế giới thứ hai mà tôi luôn cảm thấy day dứt. Nên trước khi sang Trung Quốc tôi phải cố gắng khắc phục cảm giác này”.
Tượng Từ Phúc ở Nhật Bản
Ueno nói rằng cách nói rằng mình con cháu của thần của người Nhật Bản hiện nay là rất nguy hiểm. Nếu như người Nhật tiếp tục tin vào những thần thoại này, lịch sử sẽ lại tiếp diễn. Vì thế, ông đã tính tới việc viết một cuốn sách để người Nhật Bản triệt để nhìn rõ nguồn gốc khởi nguyên của họ.
Ở Nhật Bản, điều được giữ tuyệt đối bí mật là phần mộ của tổ tiên. Nếu chưa được hoàng tộc cho phép không có ai được đụng chạm đến những phần mộ này chứ đừng nói đến vì mục đích nghiên cứu mà khai quật các phần mộ này. Nếu như người Nhật Bản cho phép khai quật các phần một tổ tiên để nghiên cứu, thì chắc chắn lịch sử của Nhật Bản sẽ phải được viết lại. Nếu như họ phát hiện ra rằng tổ tiên của mình là người Trung Quốc hay người Cao Ly, họ sẽ giải thích ra sao? Tôi nghĩ so với việc không quan tâm đến sự thực mà chỉ chìm đắm trong tưởng tượng và thần thoại thì tốt hơn nhiều.
4. Hata Tsutomu, thủ tướng của Nhật Bản đã công khai thừa nhận mình là hậu duệ của Tần Thủy Hoàng
Trên thực tế thì có rất nhiều người Nhật Bản mang họ Trung Quốc, ở Hàn Quốc cũng như vậy.
Vào năm 1994, ứng cử viên thủ tướng Hata Tsutomu trước khi nhận chức đã công khai thừa nhận mình là hậu duệ của hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc Tần Thủy Hoàng. Điều này khiến cho nhiều người Nhật Bản ngỡ ngàng. Ông nói rằng tổ tiên của mình họ Tần, mãi đến 200 năm trước đây mới đổi thành họ Vũ Điền, bởi trong tiếng Nhật, chữ Tần và chữ Vũ Điền phát âm gần giống nhau. Ông tự cho mình là người đời sau của tùy tòng gồm 3000 đồng nam đồng nữ do Từ Phúc dẫn đầu tới Nhật Bản. Nói cách khác, vị thủ tướng này đã thừa nhận trong mình có dòng máu Trung Quốc.
“Mộ của con cháu Từ Phúc được đặt trong chùa Miếu Thiện của huyện Thần Nãi, khi tôi phát hiện ra, tôi đã tin rằng 2200 năm trước, Từ Phúc đã vượt biến đến Nhật Bản”, nữ sĩ Tajima Yuuko, thuộc Hiệp hội hữu nghị Nhật Trung huyện Kanagawa, hiệp hội hữu nghị Từ Phúc của Kanagawa đã nói như vậy khi bà ở cảng Liên Vân, Giang Tô.
Có rất nhiều người người thuộc hiệp hội hữu nghị Nhật Trung huyện Kanagawa, hiệp hội hữu nghị Từ Phúc của Kanagawa đã đến cảng Liên Vân để thống báo những phát hiện mới nhất về mộ phần con cháu của Từ Phúc, nằm trong chùa Miếu Thiện ở Kanagawa, bên trái mộ của họ Fukutomi. Đại ý những ghi chép trong mộ được các chuyên gia khảo chứng, nói rằng tổ tiên của họ là Từ Phúc của triều Tần, sở dĩ họ lấy họ Fukutomi là vì lấy chữ Phúc trong tên Từ Phúc để con cháu không quên nguồn gốc tổ tiên.
Trong truyền thuyết, Từ Phúc sinh ra ở thị xã cảng Liên Vân, huyện Cán Du, trấn Kim Sơn được sử sách ghi chép là người đầu tiên của Trung Quốc vượt biển đến đất Phù Tang (Nhật Bản). Tại hơn 2200 năm trước, Từ Phúc phụng mệnh Tần Thủy Hoàng, dẫn đầu 3000 đồng nam đồng nữ vượt biển. Mọi người đều cho rằng: Từ Phúc đã đem văn minh thời Tiên Tần như kỹ thuật canh tác, luyện kim, dệt vải, văn tự,… truyền bá ở đảo quốc Nhật Bản.
Nguyên thủ tướng của Nhật Hata Tsutomu vào năm 2000 đã về vùng quê của Từ Phúc ở Cán Du. Ông từng nhiều lần phát biểu rằng, gốc gác của dòng họ Vũ Điền là ở Trung Quốc, tổ tiên của ông chính là Từ Phúc.
Em phải chứng minh và giải thích làm sao để chủ topic hiểu được rằng cái bài viết mà mình đưa lên là không đúng sự thật là không thể chấp nhận được?
Mong mọi người bàn luận và giúp đỡ em, cảm ơn nhiều!View more random threads:
- Ảnh VNDCCH
- Tiếc cho Trung quốc hay Nhật?
- Những phát minh làm thay đổi thế giới.
- Chỉ dẫn xem hạn lạm dụng của son BBIA dễ dàng & chuẩn xác
- Võ lâm là gì?
- Nguyên nhân Constantine đại đế biến Kitô giáo là quốc giáo La Mã ?
- Cảnh giác với pháp luân công !
- Tể tướng Thôi Vũ - Choe Woo của Cao Ly
- Kem dưỡng ẩm Hàn Quốc tối ưu được mua nhiều nhất 2023
- Trường Quốc Tế Cho Sinh Viên Nghèo
-
05-16-2009, 01:56 AM #2
Junior Member
- Ngày tham gia
- Nov 2015
- Bài viết
- 0
bạn có thể vào Topic này của bác Kenshin top. khá nhiều thông tin về nhật bủn.
http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=5404
-
05-16-2009, 01:56 AM #3
Junior Member
- Ngày tham gia
- Aug 2015
- Bài viết
- 0
tại sao bác không đặt lại cái tên topic cho sáng sủa ?
mà em cũng thấy lạ là hình chưa bao giờ dc đọc những truyện manga về Nhật Bản cổ đại
-
05-16-2009, 02:15 AM #4
Junior Member
- Ngày tham gia
- Aug 2015
- Bài viết
- 0
giúp bác thêm một phần kiến thức nhật bản từ báo khoa học và đời sống.www.khoahoc.net và tác giả Hà Văn Thùy.
theo tớ nghĩ thì chắc là cái bài này của bác Trường minh viết ra do một tên sino-centric, hoặc của bác tung của nào việt lên vậy thôi.
Lịch sử Nhật Bản là cuộc tranh chấp dai dẳng giữa những quan niệm trái ngược nhau về nguồn gốc người Nhật. Trùm lên những Tranh chấp ấy là tranh chấp khác, khốc liệt hơn giữa người Triều Tiên và người Nhật Bản. Dựa vào sự giống nhau nhất định về di truyền và ngôn ngữ, người Triều Tiên cho rằng, tổ tiên họ đã từng thống trị Nhật Bản còn người Nhật lại nói, tổ tiên họ từng chiếm đóng Triều Tiên rồi bắt nô lệ Triều Tiên về nước. Dựa vào truyền thuyết hoang tưởng là con cháu của Nữ thần Mặt trời, người Nhật, với lòng tự tôn dân tộc đã gây bao đau đớn không chỉ cho người Triều Tiên mà còn cho nhiều dân tộc Đông Á khác. Ngày nay, Nhật Bản và Hàn Quốc là hai động lực kinh tế ở khu vực nên mối quan hệ giữa hai cường quốc này có tác động lớn tới sự ổn định của châu Á. Vì vậy, việc minh định nguồn gốc của người Nhật Bản có ý nghĩa thời sự đặc biệt.
1. Toàn cảnh lịch sử, ngôn ngữ, di truyền người Nhật Bản
Từ cổ sử Trung Hoa, từ biên niên sử Nhật Bản, Triều Tiên, từ khảo cổ học, ngôn ngữ học và những nghiên cứu di truyền học mới nhất, bức tranh toàn cảnh lịch sử Nhật Bản được mô tả như sau:
Vào thời Băng hà, mực nước biển thấp hơn hôm nay khoảng hơn 100 met. Có những cầu bằng đất nối các đảo của Nhật Bản với nhau và với đất liền, cách 110 dặm với Nam Hàn, 190 dặm với Nga và 480 dặm với Trung Quốc. Động vật và con người đã theo những cầu đó tới Nhật Bản. Khoảng 30.000 năm trước, Nhật Bản đã có người sinh sống. Khoảng 13.000 năm trước, băng tan, nước biển dâng bằng mức ngày nay. Các hòn đảo Nhật Bản cô lập với nhau và tách khỏi đất liền châu Á. Nhưng cũng do biến động này mà điều kiện sống ở Nhật trở nên thuận lợi: khí hậu ấm áp hơn, lượng mưa hàng năm lớn, tập trung vào mùa hè khiến những cánh rừng mọc lên tươi tốt, cho nhiều trái cây như hồ đào, hạt dẻ và sồi là nguồn thức ăn phong phú, được dự trữ qua mùa đông. Vây quanh những hòn đảo là biển nông, nhiều tôm cá, sò hến. Các nhà khảo cổ phát hiện tại di chỉ Jomon có tuổi 12.700 năm, trên bờ phía bắc đảo Kyushu ở cực nam Nhật Bản gốm văn thừng, được gọi là gốm Jomon. Và Jomon cũng được dùng đặt cho người Nhật cổ. Khảo sát hàng trăm di chỉ của người Jomon, các nhà khảo cổ học cho rằng họ là những người săn-hái và sống định cư, đánh cá bằng lưới, bắn thú bằng cung tên và đi săn bằng chó. Người ta cũng xác định được 64 loại thực vật ăn được trong rác của người Jomon. Trong số thức ăn này không có sự phân biệt rõ ràng giữa cây trồng và cây hoang dại. Điều này cho thấy ở người Jomon chưa biểu hiện rõ nét khả năng thuần dưỡng cây trồng. Khoảng 1000 TCN tới giai đoạn kết thúc của thời kỳ Jomon, vài hạt gạo, lúa mạch và cây kê là những ngũ cốc chủ yếu của Đông Á, bắt đầu xuất hiện. Những manh mối lờ mờ này có vẻ nói rằng người Jomon đang bắt đầu lối canh tác nông nghiệp trồng rẫy, nhưng rõ ràng còn làm một cách ngẫu hứng nên chỉ đóng góp phụ trợ vào khẩu phần của họ. Người ta đoán rằng, vào giai đoạn cao nhất, nhân số Jomon Nhật Bản có khoảng 250.000 người. Đó là một vũ trụ bảo thủ thu nhỏ mà sự thay đổi qua hơn 10, 000 năm ít đến ngạc nhiên.
Khoảng thế kỷ IV TCN, một sự kiện quan trọng xảy ra trên đất Nhật, đó là việc người từ Triều Tiên tới, mang theo kiểu sống mới xuất hiện trên bờ biển phía bắc đảo Kyushu ngang qua eo biển Nam Hàn. Lần đầu tiên thấy ở Nhật Bản những công cụ kim loại, đồ sắt, và nông nghiệp qui mô lớn. Đó là nông nghiệp với những ruộng lúa được tưới nước, những kênh đào, đập nước, bờ đê, thóc lúa và những phần còn lại của lúa gạo được phát lộ ra khi đào khảo cổ học. Những nhà khảo cổ học gọi cách sống mới là Yayoi, sau khi một khu của Tokyo vào năm 1884 phát hiện được đồ gốm đặc trưng đầu tiên. Không giống đồ gốm Jomon, đồ gốm Yayoi rất giống gốm Hàn Quốc cùng thời về hình dạng. Nhiều yếu tố khác của văn hóa Yayoi mới không thể lầm lẫn là từ Triều Tiên và trước đó từ nước ngoài đến với Nhật Bản, bao gồm những hiện vật đồng đỏ, đồ dệt, những hạt thủy tinh, và những kiểu công cụ và nhà cửa.
Trong khi lúa gạo là cây trồng quan trọng nhất, nông dân Yayoi giới thiệu 27 vật mới tới Nhật Bản và lợn được nhập tịch. Họ có thể đã canh tác hai vụ, với những thửa ruộng được tưới để trồng lúa trong mùa hè, rồi rút kiệt nước để trồng cây kê, lúa mạch, và lúa mì mùa đông. Tất yếu, hệ thống nông nghiệp thâm canh hiệu quả cao này thúc đẩy sự bùng nổ dân cư tức thời ở Kyushu.
-
05-16-2009, 02:16 AM #5
Silver member
- Ngày tham gia
- Apr 2016
- Bài viết
- 0
Vài thế kỷ sau thấy xuất hiện lần đầu tiên dấu hiệu của sự phân tầng xã hội, thể hiện đặc biệt rõ trong những nghĩa địa. Sau khoảng 100 TCN, những phần đặc biệt của nhiều nghĩa địa được giành riêng cho những mộ của lớp quý tộc, với hàng xa xỉ được nhập khẩu từ Trung Quốc, như ngọc bích và những gương đồng đỏ đẹp. Sự bùng nổ dân cư Yayoi xảy ra, và những những miền đồng bằng thích hợp cho trồng lúa được mở rộng. Bằng chứng khảo cổ học gợi ý rằng chiến tranh trở nên ngày càng thường xuyên: sự sản xuất hàng loạt những đầu mũi tên, những hào phòng thủ bao vây những làng xóm, và những bộ xương chôn dưới đất bị tên xuyên thủng. Những dấu vết như vậy của chiến tranh trong xã hội Yayoi Nhật được chứng thực sớm nhất trong những cuốn sử biên niên Trung Hoa, ở đó mô tả đất của Wa (người Nhật) và trăm đơn vị chính trị nhỏ của nó đấu tranh lẫn nhau.
Trong thời kỳ từ 300 tới 700 năm sau CN, cả khảo cổ học lẫn những ghi chép mơ hồ trong sử biên niên sau đó bộc lộ hình ảnh lờ mờ của một Nhật Bản hợp nhất về chính trị. Trước thế kỷ III, những mộ quý tộc còn nhỏ và thể hiện nhiều kiểu thức mang tính đa dạng khu vực. Bắt đầu thế kỷ III, ngày càng nhiều những mộ đất khổng lồ gọi là kofun, trong hình dạng của những ổ khóa (keyholes), được xây dựng khắp vùng cựu Yayoi từ Kyushu đến Bắc Honshu. Kofun có tới 1. 500 feet dài và hơn 100 feet cao, làm cho chúng trở thành những mộ đất có lẽ lớn nhất trên thế giới. Số lượng vĩ đại lao động đã được huy động để xây dựng chúng và sự giống nhau về kiểu dáng của chúng trên khắp Nhật Bản ngụ ý rằng có những người cai trị hùng mạnh đã huy động được một lực lượng lao động to lớn, cũng có nghĩa có chính trị hợp nhất. Những kofun đã được khai quật chứa đựng hàng hóa được chôn cất lãng phí, nhưng những cái lớn nhất còn chưa được đào bởi vì chúng được cho là chứa đựng những tổ tiên của nhà vua Nhật. Bằng chứng rõ ràng của sự tập trung chính trị mà kofun cung cấp, củng cố những tài liệu về những hoàng đế Nhật thời kofun được viết nhiều năm sau đó bằng tiếng Nhật và những sử biên niên Triều Tiên.
Cuối cùng, với sự hoàn thành sử biên niên đầu tiên vào năm 712 đã đưa Nhật Bản vào trong ánh sáng đầy đủ của lịch sử. Kể từ 712, những người đang sống trên đất Nhật Bản hiển nhiên là người Nhật, và ngôn ngữ của họ (được gọi là tiếng Nhật cổ) cố nhiên là cội nguồn của tiếng Nhật hiện đại. Hoàng đế Akihito, người đang trị vì hôm nay, là con cháu trực hệ đời thứ 82 của vị Hoàng đế được chép trong cuốn sử đầu tiên viết năm 712 đó. Theo truyền thuyết, ông được coi là con cháu trực hệ đời thứ 125 của hoàng đế đầu tiên hoang đường Jimmu, người vĩ đại, chắt trai bốn đời của Nữ thần Mặt trời Amaterasu. Trong thời Yayoi, dân cư Nhật Bản gia tăng tới tới 70 lần, một tỷ lệ đáng kinh ngạc.(1)
Khảo sát di cốt người Nhật, cổ nhân chủng học mô tả như sau:
Xương cốt Jomon và Yayoi, có thể dễ phân biệt trên những chỉ số trung bình. Người Jomon có vẻ thấp hơn, với cánh tay tương đối dài, chân ngắn, hố mắt rộng hơn, mặt ngắn hơn và rộng hơn, và dấu vết hình thể ở mặt thể hiện rõ ràng hơn, với vòm mày, sống mũi và cầu mũi nổi lên. Người Yayoi trung bình cao hơn một tới hai inchs, hố mắt hẹp, mặt cao và hẹp, mũi và chân mày phẳng. Đặc biệt đáng chú ý: một số bộ xương thời kỳ Yayoi có vẻ ngoài còn tựa như Jomon, khơi gợi hy vọng một giả thuyết nào đó về sự chuyển tiếp Jomon -Yayoi. Bởi thời kỳ kofun, mọi bộ xương Nhật ngoại trừ của Ainu, tạo thành một nhóm tương đồng, giống với người Nhật và người Triều Tiên hiện đại. (1)
Một điểm quan trọng của toàn cảnh Nhật Bản là những đặc điểm về ngôn ngữ:
Mọi người đồng ý rằng tiếng Nhật không có quan hệ chặt chẽ với mọi ngôn ngữ khác trên thế giới. Đa số trường phái cho rằng nó là một thành viên cô lập của gia đình ngôn ngữ Altaic châu Á, có ngôn ngữ Turkic, Mông cổ, và Tungusic. Tiếng Triều Tiên thường cũng được xem xét như là một thành viên cô lập của gia đình này, và trong gia đình, tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên có thể gần gũi nhau hơn so với những ngôn ngữ Altaic khác. Tuy nhiên, những sự giống nhau giữa tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên được thể hiện bởi những đặc tính văn phạm chung và khoảng 15% những từ vựng cơ bản. Những nghiên cứu ngôn ngữ gợi ý rằng tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên phân ly ít nhất 4, 000 năm trước. Trong khi đó, ngôn ngữ Ainu, những nguồn gốc của nó gây ra sự nghi ngờ là có thể không có bất kỳ mối quan hệ đặc biệt nào tới tiếng Nhật. (1)
Nguồn gốc người Nhật càng phức tạp thêm bởi sự có mặt ở Nhật Bản những người văn hóa săn hái gọi là Ainu. Giờ Ainu chỉ sống sót trên hòn đảo phía bắc của Hokkaido nhưng vài thế kỷ trước đây họ là một thành phần quan trọng của dân cư hòn đảo chính Honshu. Ainu khác với người Nhật ở chỗ nước da sáng và thân thể nhiều lông hơn. Họ thường được gọi với danh xưng “Ainu rậm lông”.
Để giải quyết câu hỏi di truyền học, những nhà nghiên cứu khảo sát sự có mặt của một gen đặc biệt trên Y-chromosome, được gọi là Y Alu - phần tử đa hình thái (YAP). Nó phát triển trong một lịch sử tương đối gần đây và không phải mọi con đực đều có gen này. Michael Hammer tại Trường đại học Arizona ở Tucson và Satoshi Horai của Viện Di truyền học Quốc gia Nhật Bản nghiên cứu biến cố của gen YAP trong những dân cư châu Á. Họ thấy gen YAP không xuất hiện ở đàn ông Hàn Quốc hay Đài Loan. Nó chỉ có ở đàn ông Nhật và cũng chỉ phân bố tại khu vực đặc biệt. Gen YAP chỉ xuất hiện trong những người Ainu sống phía bắc và phía nam Nhật Bản. Ở trung tâm Nhật Bản, gen YAP không thấy. Điều này gợi ý rằng gen YAP đã phát triển trong số Jomon và được tiếp tục đi qua tới Yayoi do sự hòa trộn chủng tộc.
Hammer và Horai nghiên cứu sự phân phối của gen khác trên Y-chromosome. Trong trường hợp thứ 2, những đàn ông ở Hàn Quốc sở hữu gen này và nó cũng thường được tìm thấy ở miền Trung Nhật Bản. Kết luận từ sự nghiên cứu là có một sự trộn của Yayoi và Jomon tại cực nam (Okinawa) và cực bắc nhưng không hề có tại trung tâm của Nhật Bản. Nei Masatoshi của Trường đại học bang Pennsylvania điều tra biến cố của gen này ở đàn ông châu Á. Ông tìm thấy một biến cố nhỏ trong số những người Mông Cổ nhưng có tới 50 phần trăm ở đàn ông Tây Tạng. Điều này gợi ý rằng gen đã phát triển ở Bắc châu Á và được mang bởi những tổ tiên của người Nhật và Triều Tiên tới bán đảo Triều Tiên và bởi những tổ tiên của những người Tây Tạng từ Bắc châu Á đến cao nguyên Tây Tạng. Đây có lẽ là bằng chứng đầu tiên về những người Tây Tạng là những con cháu của những người di trú từ bắc châu Á. Bằng chứng xuất hiện chỉ báo rằng người Nhật phần lớn là những con cháu của Yayoi với sự pha trộn nào đó với Jomon ở cực bắc và cực nam. (2).
-
05-16-2009, 02:17 AM #6
Junior Member
- Ngày tham gia
- Nov 2015
- Bài viết
- 0
II. Những quan niệm hiện hành
Hiện có nhiều giả thuyết về nguồn gốc người Nhật. Dưới đây xin tóm lược những quan niệm đó.
Giả thuyết thứ nhất: tự những người săn-hái Jomon dần dần tiến triển thành người Nhật hiện đại. Việc họ sống ổn định trong những ngôi làng suốt hàng nghìn năm, họ có thể đã thích ứng để chấp nhận nông nghiệp. Tại sự chuyển tiếp Yayoi, xã hội Jomon có lẽ không nhận được gì hơn những hạt giống lúa chịu lạnh và kinh nghiệm về sự tưới nước của Hàn Quốc, cho phép sản xuất nhiều thức ăn hơn và tăng nhân số. Lý thuyết này quyến rũ nhiều người Nhật hiện đại bởi vì nó giảm thiểu tối đa sự đóng góp không được chào đón gen Triều Tiên vào vốn gen Nhật trong khi vẽ ra chân dung người Nhật như tộc Nhật Bản duy nhất ít ra từ 12, 000 năm qua.
Giả thuyết thứ hai: cho rằng sự chuyển tiếp Yayoi thể hiện sự di cư hàng loạt của những người nhập cư từ Hàn Quốc, mang tiếng Triều Tiên, kinh nghiệm canh tác, văn hóa, cùng nguồn gen. Theo một ước lượng, Nhật Bản Yayoi nhận vài triệu người nhập cư từ Hàn Quốc, hoàn toàn chôn vùi đóng góp di truyền học của người Jomon (phỏng đoán có khoảng 75, 000 người trước khi sự chuyển tiếp Yayoi). Như vậy, người Nhật hiện đại là con cháu của những người nhập cư Triều Tiên, những người phát triển nền văn hóa của mình trong 2, 000 năm trở lại đây. Nhiều tác giả phương Tây và Hàn Quốc ủng hộ giả thuyết này.
Giả thuyết thứ ba: chấp nhận bằng chứng sự nhập cư từ Hàn Quốc nhưng không phải là nhập cư hàng loạt. Thay vào đó, nông nghiệp hiệu quả cao có thể đã cho phép một lượng nông dân trồng lúa nhập cư khiêm nhường, sản xuất nhiều hơn, nhanh hơn người săn hái Jomon và dần dần đông hơn họ. Cũng như giả thuyết thứ hai, thuyết này xem xét những người Nhật hiện đại chịu tác động yếu ớt từ người Triều Tiên nhưng miễn trừ sự nhập cư quy mô lớn.
Ngoài ra còn 2 giả thuyết khác:
Tự tôn về nòi giống của mình, người Nhật chịu một sức ép cho rằng, họ có văn hóa và bộ gen khác, nhận được từ người Ainu sống trên những hòn đảo cực bắc Hokkaido.
Một thuyết khác cũng được sự ủng hộ rộng rãi là, người Nhật được thừa kế từ những người du cư, cuỡi ngựa từ châu Á, đi xuyên qua Hàn Quốc, nhưng không phải người Hàn Quốc, đã chiến thắng Nhật Bản ở thế kỷ IV TCN.
-
05-16-2009, 02:17 AM #7
Junior Member
- Ngày tham gia
- Aug 2015
- Bài viết
- 0
III Quan niệm của chúng tôi
1. Về người Jomon
Là bộ phận của địa văn hóa Á Đông nên sự xuất hiện tổ tiên người Nhật không thể tách khỏi quá trình hình thành dân cư Đông Á. Chúng tôi xin tóm lược quá trình này như sau:
Người Khôn ngoan Homo sapiens gồm hai đại chủng Mongoloid và Australoid từ châu Phi theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam 70.000 năm trước. Họ hòa huyết cho ra 4 chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Nhờ điều kiện sống thuận lợi, nhân số tăng nhanh, lan ra khắp lục địa Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, do khí hậu phía bắc ấm hơn, người từ Đông Dương đi lên khai phá đất Trung Quốc sau đó lên Siberia, rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ.(3) Ở Trung Hoa, do sống phân tán trong những địa hình và khí hậu khác nhau, người Việt cổ phân ly thành hơn 20 nhóm địa phương, được lịch sử gọi là Bách Việt.
Do Nhật Bản xa và lạnh nên khoảng 30.000 năm trước người Việt cổ mới đặt chân tới. Đó chính là người Jomon. Nhân đây cũng xin nói ít lời về gốm Jomon. Tác giả Jared Diamond cho rằng, do điều kiện sống thuận lợi nên người săn hái Jomon sống định cư tập trung và sáng tạo gốm văn thừng. Điều này nghe ra có vẻ có lý nhưng không thể không tính tới một sự thật: vì sao suốt 10.000 năm tồn tại mà gốm Jomon hầu như không thay đổi? Nếu thực sự là người phát minh ra gốm văn thừng thì chắc chắn rằng với cảm hứng sáng tạo sẵn có, người Jomon sẽ sáng tạo nhiều kiểu gốm khác, như người ở đất liền đã làm được. Điều này không xảy ra chứng tỏ người Jomon thụ động tiếp nhận gốm văn thừng từ người khác. Vì vậy, chúng tôi nghiêng về phía những tác giả khác, đặc biệt là Stephen Oppenheimer khi ông cho rằng, gốm Jomon là do người Hòa Bình đưa tới trước khi nước dâng (4)
2. Về người Yayoi.
Trong 10.000 năm tồn tại, do điều kiện cô lập nên về sinh học, người Jomon hầu như không có biến đổi. Trong khi đó, tại đất liền, có những biến đổi lớn, không chỉ về phương thức sống mà còn về di truyền. Khoảng 5000 năm TCN, tại trung lưu Hoàng Hà, người Mogoloid phương Bắc tiếp xúc và hòa huyết với người Bách Việt Australoid sinh ra chủng Việt mới là Mongoloid phương Nam. Người Mongoloid phương Nam tăng số lượng, trở thành chủ nhân văn hóa Yangshao (Ngưỡng Thiều) (5). Khoảng 2600 TCN, cuộc xâm lăng lớn của người Mongoloid phương Bắc diễn ra, một bộ phận người Bách Việt dùng thuyền di tản khỏi lưu vực Hoàng Hà, theo gió Bấc xuống Việt Nam và các hải đảo Đông Nam Á. Người Mongolod phương Nam trong dòng di tản hòa huyết với người bản địa, sinh ra những người Mongoloid phương Nam mới. Đây là quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á. Cho tới 2000 năm TCN, đại đa số dân cư Đông Nam Á chuyển thành Mongoloid phương Nam (6). Sự kiện này cũng diễn ra trên đất Trung Hoa, cho tới 2000 năm TCN, đại bộ phận dân cư trên đất Trung Hoa là Mongoloid phương Nam. Trên đất Triều Tiên, tình hình cũng diễn ra tương tự.
Thế kỷ IV TCN, nhà Chu tan rã, Trung Quốc lâm vào thời Chiến Quốc, xảy ra những cuộc chiến tranh liên miên giữa những thuộc quốc của nhà Chu và những quốc gia Bách Việt còn độc lập. Chiến tranh khốc liệt đẩy một bộ phận Bách Việt mà sử Trung Hoa gọi là Đông Di lánh nạn sang bán đảo Triều Tiên rồi từ đó họ tràn tới Nhật Bản. Cuộc di tản như dòng nước lũ cuốn theo những nông dân nghèo Triều Tiên đi tìm vận hội mới. Khó có khả năng cuộc di cư này do người Triều Tiên chủ động, bởi thời điểm đó, người Triều Tiên chưa thực đông và cũng chưa hội đủ sức mạnh để làm cuộc di dân lớn đến vậy – có dự đoán tới vài triệu người. Có lẽ hợp lý hơn là sự “dồn toa” dây chuyền do khủng hoảng dân số ở Trung Quốc tác động tới. Trên đất Nhật, những người nhập cư này được gọi là người Yayoi. Chắc chắn rằng, vào thời điểm này, trong thành phần Đông Di cũng như người Triều Tiên, còn một lượng người Việt cổ thuộc nhóm loại hình Australoid, đồng chủng với Jomon. Vì vậy, theo nghĩa nào đó, người Yayoi đồng chủng với Jomon, có thể có những nhóm còn chung ngôn ngữ nữa. Vì vậy, có cơ sở để cho rằng, cuộc di dân của Yayoi là nhập cư hòa bình. Một cách tự nhiên, người Jomon tiếp thu phương thức sản xuất cũng như nguồn gen từ người mới tới.
-
05-16-2009, 02:17 AM #8
Senior Member
- Ngày tham gia
- Aug 2015
- Bài viết
- 329
3. Người Nhật hiện đại
Chúng tôi cho rằng, phần lớn người Yayoi nhập cư thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Khi hòa huyết với người Jomon bản địa thuộc nhóm loại hình Australoid, đã sinh ra lớp người Mongoloid phương Nam mới, chính là tổ tiên người Nhật hiện đại. Khi lai với người Mongoloid phương Nam, nguồn gen Mongoloid trở nên áp đảo, che khuất yếu tố Australoid của Jomon. Điều này dẫn tới những ý kiến sai lầm cho rằng người Jomon không tham gia vào việc hình thành người Nhật hiện đại. Việc tìm thấy những di cốt đang chuyển hóa từ Jomon sang Yayoi là bằng chứng thuyết phục. Hiện tượng như vậy cũng thấy ở Việt Nam, rõ nhất tại di chỉ Mán Bạc, Ninh Bình (6).
Phương án của chúng tôi hóa giải được mâu thuẫn: người Nhật Bản trẻ về di truyền nhưng ngôn ngữ lại cổ? Người Nhật Bản chỉ ra đời từ sau thế kỷ IV TCN, muộn hơn các dân tộc Đông Á khác khoảng 2000 năm. Chính vì vậy, về di truyền, họ trẻ nhất khu vực. Về ngôn ngữ, người Nhật hiện đại kế thừa ngôn ngữ của người Việt cổ Jomon cùng với ngôn ngữ của nhóm Việt nào đó trong cộng đồng Đông Di thiên cư. Sau thời Chiến Quốc tới thời Tần, Hán, người Đông Di bị Hán hóa nên mất ngôn ngữ gốc. Trong khi đó những người di tản 2400 năm trước vẫn duy trì ngôn ngữ tổ tiên trên đất Nhật. Đó có thể là lý do vì sao ngày nay không thấy ngôn ngữ nào trên đất liền châu Á giống với ngôn ngữ Nhật và người Nhật có ngôn ngữ riêng độc đáo, cổ xưa của mình. Như vậy, cũng loại bỏ khả năng “người châu Á du cư, cưỡi ngựa đi qua Triều Tiên tới Nhật.” Là người du mục, họ không thể có những kỹ năng nông nghiệp như vậy. Yayoi chính là người Đông Di nông nghiệp vùng Sơn Đông.
Dựa trên đặc điểm ngôn ngữ và di truyền của người Triều Tiên và Nhật Bản, chúng tôi cho rằng: thoạt kỳ thủy, tức là vào khoảng 30.000 năm trước, người Nhật và người Triều Tiên cùng một mã di truyền. Có nghĩa là thành phân dân cư hai nước giống nhau. Người được gọi là Jomon không chỉ sống ở Nhật Bản mà cũng sinh sống trên đất Triều Tiên. Có hai khả năng dẫn tới điều này: người Việt cổ tới Nhật rồi từ đó tràn sang Triều Tiên theo những cầu bằng đất nối hai lãnh thổ. Cũng có thể người Việt cổ từ Trung Hoa tới Triều Tiên rồi sang Nhật. Suốt thời gian dài, giữa hai lãnh thổ duy trì tình trạng như vậy. Chỉ từ sau 2600 năm TCN, với cuộc xâm lăng của người Mông Cổ, người Bách Việt thuộc chủng Mongoloid phương Nam tràn tới Triều Tiên, làm cho người ở đây biến đổi cả về di truyền lẫn ngôn ngữ. Chính ở thời điểm này, ngôn ngữ Triều Tiên và Nhật Bản phân ly.
4. Người Ainu
Dựa vào ngoại hình cũng như quan hệ di truyền của người Ainu được trình bày ở phần trên, chúng tôi cho rằng nguồn gốc của họ như sau:
Khoảng 40.000 năm trước, người từ Đông Á đi tới cao nguyên Tây Tạng, rồi từ đây sang Trung Á. Khoảng 30.000 năm trước do trời bớt lạnh hơn, họ đi vào châu Âu. Tại đây họ hòa huyết với những người từ bán đảo A rập cũng vừa lên, tạo ra chủng Caucasoid, là tổ tiên người châu Âu hiện đại. Khoảng 20.000 năm trước, có những nhóm người từ Trung Á trở lại Tây Tạng. Do tiếp xúc với người châu Âu nên trong máu họ có gen Caucasoid. Từ Tây Tạng họ di cư lên Đông Bắc Á để vượt eo Bering sang châu Mỹ.(7) Trên đường hành trình, có những nhóm dừng lại định cư trên một số hòn đảo cực bắc và cực nam Nhật Bản. Đó chính là người Ainu. Do sống biệt lập nên người Ainu chỉ hòa huyết với một bộ phận nhỏ người ở bắc và nam Nhật mà không góp phần vào nguồn gen của người Nhật hiện đại. Đấy là nguyên nhân không thấy gen Ainu ở trung Nhật, nơi tập trung phần lớn dân cư Nhật Bản.
Kết luận
Thiết tưởng, với trình bày trên, chúng tôi đã giải quyết thỏa đáng vấn đề nguồn gốc người Nhật hiện đại. Nói thỏa đáng vì phương án của chúng tôi không mâu thuẫn với những dữ liệu lịch sử, ngôn ngữ, di truyền người Nhật hiện có. Không những thế, nó nhất quán với sự hình thành dân cư Đông Á. Thỏa đáng còn vì nó hóa giải được những nghi án tồn tại từ lâu như vì sao người Nhật trẻ về sinh học nhưng lại có ngôn ngữ cổ. Nó giải thích được sự tham gia của yều tố Triều Tiên trong di truyền và ngôn ngữ Nhật. Nó cũng truy tìm được gốc gác thực sự của người Ainu, xếp họ vào nhóm riêng, loại trừ ý tưởng sai lầm coi Ainu là hậu duệ của người Jomon rồi từ đó cho rằng người Jomon không có vai trò gì trong việc hình thành người Nhật hiện đại.
Như vậy là, cùng với người Triều Tiên, Trung Hoa và các dân tộc Đông Á khác, người Nhật Bản cũng là hậu duệ của những tổ tiên từ châu Phi tới Việt Nam 70.000 năm trước.
-
05-16-2009, 02:24 AM #9
Junior Member
- Ngày tham gia
- Aug 2015
- Bài viết
- 0
tóm tắt sử nhật cho bác xem cái luôn cho rõ ràng hơn về nhật bản để mà bẻ lại lý luận của bọn kia nà
LỊCH SỬ NHẬT BẢN QUA CÁC THỜI KỲ
Thời Tiền đồ đất nung (Thời đại đồ đá cũ): 15000 năm đến 5000 năm TCN
Sống du mục săn bắt và hái lượm
Thời đồ gốm Jomon: 5000 năm đến 200 năm TCN
Thời đồ gốm Yayoi: 200 năm TCN đến năm 200
Chuyển sang trồng lúa và hình thành việc định cư. Phát triển các vương quốc độc lập nhỏ. Vào cuối thời kì, có xu hướng đi đến thống nhất.
Thời văn hoá Kofun: Cuối thế kỷ III đến cuối thế kỷ VI
Vương quốc Yamato thiết lập sự thống trị trên quá nửa phía Tây quần đảo Nhật Bản, kể cả phía Nam của Triều Tiên. Sau này, việc kiểm soát phía Nam Triều Tiên bị suy yếu, và sự tranh ngôi trong gia đình Nhật hoàng đã đe doạ quyền lực của Yamato. Đạo Phật và đạo Khổng được du nhập.
Thời Asuka: Cuối thế kỷ VI đến đầu thế kỷ VIII
Hoàng tử Shotoku phục hồi quyền lực của vương quốc Yamato. Các cố gắng đầu tiên để tạo nên hiến pháp và một hệ thống giai cấp chính thức. Shotoku quảng bá cho đạo Phật. Một số chùa Phật giáo được xây dựng. Gia đình Soga trở nên rất có quyền lực, tuy nhiên sau này đã bị Fujiwara-no-Kamatari dưới quyền hoàng tử Naka-no-Oe lật đổ. Cải cách Taika theo những ý tưởng trước đây của hoàng tử Shotoku. Chấm dứt sự cai trị của người Nhật Bản ở Triều Tiên. Tinh thần của cải cách Taika được thể hiện trong bộ luật gọi là Ritsuryo dưới thời Temmu, sau này được cải tiến dưới thời Mommu, cháu nội của ông ta.
Thời Nara: Đầu thế kỷ VIII đến cuối thế kỷ VIII
Nara trở thành thủ đô, bộ luật Ritsuryo được hoàn thành. Nhật hoàng có uy quyền lớn. Văn hoá thời nhà Đường của người Trung Hoa được du nhập vào. Đạo Phật hưng thịnh. Hai cuốn lịch sử dân tộc Kojiki và Nihon Shoki cũng như Man’yoshu, một tuyển tập các bài thơ Nhật Bản, được biên soạn. Nền văn hoá đạt tới mức cao nhờ việc trộn lẫn các yếu tố Trung Hoa và Nhật Bản. Đúc được các đồng tiền bằng bạc và đồng đỏ. Một số chùa gỗ trong đó có chùa Todaji và kho báu hoàng gia Shosoin được xây dựng.
Thời Heian
Đầu Heian: Cuối thế kỷ VIII đến cuối thế kỷ IX
Nhà nước chuyển tới thủ đô mới Heian-Kyo (Kyoto). Thành lập các giáo phái Phật giáo mới đã Nhật Bản hoá (là Tendai và Shingon - chủ yếu hội nhập những yếu tố tiến bộ). Hệ thống các điều luật Ritsuryo được sửa đổi. Lối viết thơ văn theo kiểu Trung Hoa rất hưng thịnh ở triều đình. Dòng họ Fujiwara nắm quyền hành đằng sau ngai vàng.
Giữa Heian: Cuối thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI
Với sự gia tăng quyền lực của dòng họ Fujiwara, việc cai quản chính quyền bằng quan nhiếp chính trở thành luật lệ. Triều đình mất quyền kiểm soát đất nước mà chỉ còn nắm vai trò nghi thức đơn thuần. Phúc lợi công cộng bị coi nhẹ. Người đứng đầu các tỉnh trở nên tham nhũng và lười nhác. Chủ nhân của các khu trang ấp (shoen) thành lập các nhóm võ sĩ để tự vệ, tạo ra sự mở đầu của hệ thống samurai (cận vệ có vũ trang). Thơ ca Nhật Bản phát triển vững chắc, đặc biệt là waka (thể thơ 31 âm tiết). Kokinshu và các tuyển tập waka khác được biên soạn. Những tác phẩm viết khác gồm có tiểu thuyết đầu tiên của thế giới, cuốn Genji Monogatari do một mệnh phụ triều đình viết, cuốn Ise Monogatari, Tosa Nikki và Makura-no-Soshi.
Cuối Heian: Cuối thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XII
Bắt đầu một thế kỷ các Nhật hoàng đi tu nhưng vẫn cai quản công việc triều chính. Triều đình suy đồi, dần biến thành một nhà không có thực quyền, quan liêu xa rời thực tế, không chăm lo đến các phúc lợi công cộng mà chỉ bận tâm tới việc xây dựng chùa chiền và truyền bá tư tưởng Phật giáo. Tầng lớp quý tộc trong triều đình suy đồi và vô dụng. Giáo phái Phật giáo Jodo (Tịnh Thổ) phát triển. Quyền lực của các phe cánh địa phương với nền tảng là hệ thống samurai tăng lên. Dẫn đầu trong số họ là các gia đình Minamoto (Genji) và Taira (Heike hoặc Heishi). Các chùa chiền cũng duy trì lực lượng tự vệ. Những cuộc tranh giành quyền lực trong hoàng tộc và các yếu tố khác cuối cùng đã đem lại uy thế cho gia đình Taira, nhưng sau một phần tư thế kỷ nắm quyền, rốt cuộc Taira lại bị Minamoto đánh bại.
Thời Kamakura: Cuối thế kỷ XII đến cuối thế kỷ XIV
Minamoto-no-Yoritomo bổ nhiệm Seii-Taishogun (Chinh di đại tướng quân). Thành lập Mạc Phủ hay chế độ shogun đầu tiên ở Kamakura. Phát triển nông nghiệp nhờ sử dụng súc vật kéo. Thu hoạch vụ mùa nửa năm một lần. Bổ nhiệm chức vụ shugo và jito. Giáo phái Phật giáo Jodo phát triển. Giáo phái Zen du nhập vào từ Trung Quốc. Sau cái chết của Yoritomo, gia đình Hojo trở thành các quan nhiếp chính trong chế độ shogun. Dòng dõi Minamoto chẳng bao lâu kết thúc, nhưng gia đình Hojo vẫn tiếp tục làm các quan nhiếp chính, kiểm soát cả các Nhật hoàng lẫn các shogun. Giáo phái Phật giáo Nichiren (hoặc Hokke) phát triển. Heike Monogatari được viết. Samurai ngày càng trở nên có nhiều quyền lực ở các vùng trang ấp. Vào giai đoạn cuối của thời kỳ này, Nhật hoàng Godaigo nhanh chóng khôi phục lại luật lệ hoàng gia nhưng thất bại trong việc đạt được quyền kiểm soát thích đáng và bị lật đổ bởi người trước đó đã từng giúp ông là chiến binh Ashikaga Takauji - người đã đưa Komyo lên ngai vàng. Godaigo bỏ trốn và lập ra một triều đình ở Yoshino kình địch với triều đình Komyo ở Kyoto. Hai triều đình phía Bắc và phía Nam sau đó tiếp tục tồn tại trong 57 năm.
Thời Muromachi: Đầu thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XV
Chế độ shogun Ashikaga (hoặc Muromachi) bắt đầu bằng việc triều đình phía Bắc phong cho Ashikaga Takauji tước hiệu Seii-Taishogun. Tổng hành dinh được thành lập tại Muromachi ở Kyoto. Với việc hai triều đình phía Bắc và phía Nam hợp nhất lại vào năm 1392, chế độ tướng quân này cuối cùng hoàn toàn được thừa nhận. Samurai dù sao vẫn tiếp tục làm xói mòn quyền lực của giai cấp quý tộc tại các thái ấp (shoen). Chính quyền shogun bổ nhiệm một số người giữ chức shugo như đã có từ thời chính quyền shogun Kamakura. Tuy nhiên, những người này không phải là tuỳ tùng của Ashikaga, họ hành động vì lợi ích của chính họ, phát triển thành các thủ lĩnh shugo-daimyo của samurai địa phương với quyền hành riêng. Uy quyền của chế độ shogun không ngừng bị giảm sút do ảnh hưởng bởi sự yếu kém của triều đình. Tuy vậy, các môn nghệ thuật như cắm hoa, trà đạo v.v... lại phát triển. Các môn Kịch Nô, Kyogen v.v... phát triển đến độ chín mùi. Phát triển nghệ thuật vẽ tranh mực Tàu và tranh nhiều màu sắc rực rỡ theo trường phái Kano. Kết thúc thời kỳ này là cuộc chiến tranh Onin. Sau đó chế độ shogun hầu như mất toàn bộ quyền kiểm soát, dẫn đến thời kỳ của các cuộc nội chiến. Mặc dù vậy, thời kỳ này đã chứng kiến sự phát triển của nghề cá, khai thác mỏ, buôn bán v.v... Các thị trấn phát triển xung quanh các thành trì, đền chùa và bến cảng v.v...
Thời Azuchi-Momoyama: Cuối thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVI
Thời kỳ của các cuộc nội chiến. Quyền lực dần dần chuyển từ trên xuống dưới: Shogun > dòng họ Hosokawa (cấp dưới của shogun) > dòng họ Miyoshi (cấp dưới của Hosokawa) > dòng họ Matsunaga (cấp dưới của Miyoshi). Quyền lực của shugo-daimyo tăng lên, thay thế tầng lớp quý tộc cũ kiểm soát các thái ấp. Họ cố thủ trong các khu vực của mình và tìm cách mở rộng quyền lực. Việc này cuối cùng dẫn tới một xu hướng thống nhất quốc gia dưới một người lãnh đạo có quyền lực cao nhất. Trong thời kỳ này, những người châu Âu đầu tiên đã đến Nhật Bản, mang theo súng ống và Cơ đốc giáo. Việc buôn bán với nước ngoài bắt đầu. Oda Nobunaga trục xuất viên shogun Ashikaga cuối cùng và thành công trong việc thống nhất một khu vực quan trọng của đất nước. Sau khi ông chết do bị phản bội, công việc của ông được người tuỳ tùng trung thành tên là Toyotomi Hideyoshi hoàn thành. Đạo Cơ đốc và việc buôn bán với nước ngoài phát triển mạnh mẽ dưới thời Nobunaga và vào đầu thời Hideyoshi, nhưng cuối cùng Hideyoshi nghi ngờ những tham vọng về đất đai của người châu Âu và đã ra lệnh trục xuất những người truyền giáo. Việc buôn bán vẫn tiếp tục. Hideyoshi phái quân đội xâm chiếm Triều Tiên. Cuộc viễn chinh thất bại. Trường phái hội hoạ Kano và trà đạo phát triển tới đỉnh điểm. Sau khi Hideyoshi chết, quyền lực bị Tokugawa leyasu thâu tóm.
Thời Edo
Đầu Edo: Đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII
Tokugawa bổ nhiệm shogun thông qua Nhật hoàng (cả Nobunaga lẫn Hideyoshi đều không cố gắng trở thành shogun mà chỉ duy trì quyền lực qua các vị trí chính thức tại triều đình). Các daimyo chống đối gia đình Tokugawa đều bị chuyển tới các thái ấp ở những vùng xa trung tâm và bị ép phải dùng phần lớn của cải của họ để làm đường và các dự án khác, bị buộc phải luân phiên di chuyển hàng năm giữa Edo và thái ấp của mình, để lại gia đình làm con tin lâu dài ở Edo. Các thái ấp được những người tuỳ tùng của shogun cai quản, tuy nhiên quyền lực ở đây rất lớn. Thành lập bộ luật hợp pháp cho các gia đình quý tộc, tạo điều kiện cho chế độ shogun kiểm soát triều đình và hoàng đế. Hệ thống 4 đẳng cấp (1. võ sĩ, 2. nông dân, 3. thợ thủ công, 4. nhà buôn) được thừa nhận, cùng với việc hôn nhân giới hạn trong những người ở cùng một đẳng cấp. Ở từng đẳng cấp, mối quan hệ chủ - tớ phong kiến được thiết lập. Chế độ shogun Tokugawa được thiết lập vững chắc trên hệ thống này và được biết tới dưới tên gọi bakuhan (Kết hợp shogun và chủ thái ấp). Buôn bán và đạo Cơ đốc một lần nữa lại phát triển thịnh vượng trong thời gian ngắn, tuy nhiên, cũng như Hideyoshi, Ieyasu cuối cùng đã nhìn thấy nguy cơ của đạo Cơ đốc và bắt đầu những biện pháp đàn áp với mức độ ngày càng tăng. Tới thời kỳ của shogun Tokugawa thì việc cấm đạo Cơ đốc và buôn bán hầu như đã hoàn thành. Những người Nhật Bản tin vào đạo Cơ đốc bị hành hình. Các thương gia, trừ người Hà Lan và người Trung Hoa, đều bị cấm tới Nhật Bản, và người Hà Lan bị hạn chế chỉ cho phép đến một hòn đảo nhỏ ở cảng Nagasaki. Quyền lực của chế độ shogun được củng cố, việc cai trị tập trung, công nghiệp và nghề thủ công phát triển mạnh mẽ, giao thông được cải thiện, đem lại sự thịnh vượng cho buôn bán và thương mại nội địa. Các thị trấn mọc lên ngày càng nhiều và rất hưng thịnh, đặc biệt là các đô thị quanh cung điện. Giới thương gia trở nên giàu có, và từ tầng lớp này xuất hiện những hình thức nghệ thuật mới, bao gồm thơ haiku (Matsuo Basho), thể loại tiểu thuyết (Ihara Saikaku), kịch rối (Chikamatsu Monzaemon), các bản in tranh khắc gỗ ukiyoe v.v... Kịch Kabuki được dàn dựng lần đầu tiên ở Kyoto vào đầu thời kỳ này, sau đó hạn chế chỉ dành cho diễn viên nam, bắt đầu được diễn ở Edo và Osaka vào cuối thể kỷ XVII.
Giữa Edo: Đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX
Hệ thống bakuhan không ngừng suy yếu do sự tập trung của cải vào tay giới thương gia. Chế độ shogun gặp phải những khó khăn tài chính, samurai và nông dân rơi vào cảnh nghèo khó. Đã có các nỗ lực nhằm cải cách chế độ shogun, nhưng do vẫn duy trì chính sách thả lỏng việc tư nhân kinh doanh nên tình trạng suy vong ngày càng nặng nề. Nạn đói kém và thảm hoạ thiên nhiên, cộng thêm sưu cao thuế nặng (đối với lúa gạo) mà chế độ shogun và daimyo bắt người dân gánh vác đã biến những người nông dân và các tầng lớp dân thường khác thành nghèo khổ. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân xuất hiện. Trong lĩnh vực văn hoá, chứng kiến sự nở rộ cuối cùng của nền văn hoá Edo. Các truyện ngắn theo xu hướng phóng đãng, truyện tình lịch sử, nghệ thuật đóng kịch Kabuki, các loại tranh và bản in gỗ gồm "nishiki-e" (bản in tranh nhiều màu) được phát triển. Giáo dục được truyền bá vào tầng lớp thương gia và thậm chí cả những nông dân tại "terakoya". Phát triển các trường "kokugaku" (Quốc học), một xu hướng giáo dục thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa và trở lại các truyền thống quốc gia. “Rangaku" (Hà Lan học) - việc nghiên cứu các tác phẩm khoa học khác nhau du nhập từ phương Tây qua các thương nhân Hà Lan như địa lý, y học, thiên văn, vật lý, hoá học v.v... cũng dần dần được phát triển.
Cuối Edo: Đầu thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX
Suốt thời kỳ đầu Edo, những người nước ngoài đủ loại đã đặt chân lên đất Nhật Bản, nhưng tiếp theo chuyến viếng thăm của thuyền trưởng Perry năm 1853 nhân danh Tổng thống Mỹ đòi hỏi mở cửa đất nước để buôn bán, các lực lượng trong và ngoài Nhật Bản đã dần dần ép nhà nước phải từ bỏ chính sách bế quan toả cảng. Chế độ Shogun quyết định buôn bán với các dân tộc khác. Mặc dù xung đột quyền lực giữa shogun và các lực lượng hoàng gia đã đem lại thắng lợi cho những người ủng hộ Nhật hoàng - những người đã công khai chống đối chính sách này - nhưng sau khi shogun sụp đổ, họ đã ủng chính sách buôn bán với nước ngoài và việc đổi mới đất nước.
Thời Minh Trị
Đầu Minh Trị: Cuối thế kỷ XIX
Các thái ấp phong kiến bị bãi bỏ và thay thế bằng hệ thống quản lý hành chính theo cấp tỉnh. Các đẳng cấp trong xã hội phong kiến bị huỷ bỏ. Quân đội quốc gia và việc tuyển quân, chế độ thuế mới, hệ thống tiền tệ theo hệ thập phân, mạng lưới đường sắt, cùng các hệ thống thư tín, điện thoại, điện báo được thiết lập. Công nghiệp hiện đại được khởi đầu với các nhà máy do nhà nước xây dựng và điều hành, sau này được chuyển sang sở hữu tư nhân. Việc cải cách gặp phải sự chống đối đáng kể nhưng đều bị dẹp yên. Quan hệ buôn bán với Triều Tiên và Trung Quốc được thiết lập. Nhà nước đã nỗ lực hết sức để sửa đổi những hiệp ước không công bằng đã được ký kết với các nước phương Tây. Đạo Phật và Thần đạo, sau thời gian dài hợp nhất, đã chính thức tách ra. Thần đạo được lấy làm nền tảng tư tưởng cho điều lệ của hoàng gia. Việc cấm đạo Cơ đốc được huỷ bỏ. Các trường học mới, theo phong cách phương Tây, được lập nên ở khắp nơi, không phân biệt đẳng cấp, tài sản hay giới tính. Các lý tưởng về tự do, chủ nghĩa xã hội, bình đẳng v.v... cũng du nhập vào từ phương Tây và khá hưng thịnh trong một thời gian ngắn. Việc ăn mặc và nhiều vấn đề khác trong đời sống hàng ngày chịu ảnh hưởng của phương Tây. Việc kêu gọi thành lập một chính phủ lập hiến dẫn tới sự ra đời của Nghị viện quốc gia và việc ban hành hiến pháp. Nghị viện tuy nhiên chỉ có ít quyền lực thực tế. Năm 1894, hiệp ước bất bình đẳng với Anh quốc trong buôn bán được sửa đổi và các hiệp ước với những quốc gia khác cũng sửa đổi theo cho phù hợp. Chiến tranh Trung - Nhật nổ ra. Sau thắng lợi của Nhật, Nga, Đức và Pháp ép Nhật phải từ bỏ một số lãnh thổ đã chiếm đóng, tạo ra mâu thuẫn lâu dài và sâu sắc giữa Nhật và các nước Nga, Đức và Pháp. Liên minh Nhật - Anh hình thành. Chiến tranh Nga - Nhật bùng nổ.
Cuối Minh Trị: Đầu thế kỷ XX
Trong giai đoạn đầu, cuộc cách mạng công nghiệp ở Nhật Bản chủ yếu tập trung vào công nghiệp nhẹ. Tuy nhiên, ở giai đoạn thứ hai, việc xây dựng công nghiệp nặng đã được tăng cường, tập trung trước hết vào công nghiệp sắt thép (đặc biệt với sự sẵn có của nguồn quặng sắt và than Mãn Châu sau khi Nhật giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật). Các con tàu lớn, cơ động và các thiết bị đường sắt khác v.v.. được sản xuất trong nước.
Thời Taisho: Đầu thế kỷ XX
Thời kỳ này chứng kiến cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Cuộc chiến tranh này đã thúc đẩy kinh tế và buôn bán của Nhật Bản phát triển. Nhật Bản đồng thời cũng chiếm được đất đai ở Trung Hoa và Nam Thái Bình Dương, nhưng lại làm cho các quốc gia phương Tây ngờ vực. Nhật Bản đầu tư vốn vào Trung Hoa. Trong chiến tranh, các cuộc thương lượng ngoại giao quốc tế được tiến hành để cố gắng duy trì sự cân bằng quyền lực. Ở Nhật Bản, các đảng phái chính trị trở nên mạnh hơn và các lý tưởng dân chủ chiếm ưu thế. Sau cùng, dù sao, sự khủng hoảng của nền kinh tế hậu chiến trên thế giới đã ảnh hưởng bất lợi tới các nhà kinh doanh Nhật Bản, đồng thời trận động đất Kanto dữ dội vào năm 1923 đã làm cho nền kinh tế thêm khó khăn. Tình trạng thất nghiệp, đồng lương sụt giảm và tranh chấp việc làm luôn xảy ra. Phong trào xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế.
Thời Showa
Đầu Showa: Đầu thế kỷ XX đến giữa thế kỷ XX
Suy thoái kinh tế và bế tắc ngoại giao. Xuất khẩu giảm sút. Phá sản xảy ra thường xuyên, nhiều người thất nghiệp. Chính sách kiềm chế của Mỹ đối với Nhật Bản gia tăng. Hiệp định Ishii-Lansing, thừa nhận quyền lợi đặc biệt của Nhật Bản ở Trung Hoa, đã chấm dứt. Các dự thảo luật chống người nhập cư Nhật Bản ra đời và phong trào trục xuất người Nhật Bản ở Trung Hoa lan rộng. Nội các không thể đối phó được vì các nhà chính trị và các Zaibatsu đã chiếm độc quyền, bị thu hút bởi các lợi ích tài chính, mà quên mất quyền lợi quốc gia và sự đau khổ của nhân dân. Rắc rối lên đến đỉnh điểm ở cánh hữu gây ra những vụ ám sát và các hoạt động quân sự, dẫn tới chính sách mở rộng xâm lược ở Trung Hoa, rút khỏi Hội Quốc liên và chủ nghĩa bành trướng của những người theo chủ nghĩa quân phiệt cánh hữu gia tăng. Sau này họ đã liên kết với chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã. Do vậy Nhật Bản đã gây ra chiến tranh Thái Bình Dương.
Cuối Showa: Giữa thế kỷ XX
Thất bại trong chiến tranh và sự sụp đổ của chủ nghĩa quân phiệt làm cho Nhật Bản bị chiếm đóng. Tiến hành các cải cách dân chủ, xây dựng lại nền công nghiệp bị tàn phá. Hiệp ước San Francisco có hiệu lực. Đạt được các kỳ tích về kinh tế và đời sống của nhân dân được nâng cao. Nhật Bản lại đóng vai trò quốc tế như một quốc gia thương mại và dần dần trở thành nước có tiềm lực kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ. Xảy ra vụ bê bối Lockheed, chính trường xáo trộn, đồng yên tăng giá và buôn bán thặng dư trở thành một vấn đề quốc tế. Đã diễn ra những sự kiện trọng đại trong đời sống kinh tế, xã hội Nhật Bản: Khai trương mạng lưới tàu Shinkansen (Tokaido, San’yo, Tohoku, Kan’etsu), chia tách và tư hữu hoá đường sắt quốc gia, mở đường hầm Seikan, khai trương cầu Seto Ohashi, vụ bê bối Recruit.
Thời Heisei: Cuối thế kỷ XX
Chiến tranh vùng Vịnh, hoạt động chính trị bị hỗn loạn, vụ bê bối Sagawa Kyubin. Hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hiệp quốc được triển khai. Lực lượng phòng vệ được cử đến Campuchia và Môdămbích. Xảy ra trận động đất Hanshin-Awaji. Bắt đầu thời kì trì trệ.
nguồn dongdu.edu.vn
-
05-16-2009, 02:41 AM #10
Junior Member
- Ngày tham gia
- Dec 2015
- Bài viết
- 0
Cám ơn anh Seaboy nhiều lắm. Nhân tiện cũng nói thêm rằng bài trên không phải do em viết mà là trên mạng trường có người kia đăng.

Trả lời kèm Trích dẫn
Có những khoảng lặng trong đời mà người đàn ông cần đối diện với chính mình. Không phải lúc nào cũng có bờ vai để tựa, không phải đêm nào cũng có hơi ấm để ôm. Những tháng ngày ấy, nỗi nhớ và khát...
Thiết bị hỗ trợ cảm xúc – Chăm sóc bản thân một cách văn minh